A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tìm hiểu về liệu pháp điều trị trúng đích

Liệu pháp nhắm trúng đích (Targeted therapy) là liệu pháp điều trị ung thư bằng cách sử dụng các thuốc làm hạn chế sự tăng trưởng và lan tràn của bệnh ung thư, thường được áp dụng trên những bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn, tiến triển và di căn xa mà các phương pháp điều trị tại chỗ như phẫu thuật, xạ trị không thể thực hiện được.

1. Liệu pháp điều trị trúng đích là gì?

Liệu pháp điều trị trúng đích là các loại thuốc hoặc các chất có khả năng ngăn chặn sự tăng sinh và lan rộng của khối u bằng cách can thiệp vào các phân tử đặc hiệu (gọi là các phân tử đích) có liên quan đến sự tăng sinh, tiến triển và lan rộng của ung thư.  

Liệu pháp điều trị trúng đích thường được các bác sĩ và bệnh nhân ung thư gọi là “thuốc đích” hay “điều trị nhắm trúng đích”.

Tới nay, nhiều loại thuốc trong nhóm liệu pháp điều trị trúng đích đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để sử dụng trong điều trị ung thư bao gồm: ung thư vú, ung thư phổi, ung thư trực tràng…

2. Phân loại liệu pháp điều trị trúng đích

Liệu pháp điều trị trúng đích có thể được phân thành hai nhóm chính:

  • Thuốc phân tử nhỏ (small molecule medicines)
  • Kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies).

Thuốc phân tử nhỏ thường có đuôi “-ib.” trong tên gọi của thuốc liệu pháp điều trị trúng đích, ví dụ như imatinib (Gleevec) dùng trong điều trị ung thư máu.

Kháng thể đơn dòng thường có đuôi “-mab.” trong tên gọi, ví dụ bevacizumab (Avastin), là loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích có khả năng ức chế các mạch máu nuôi khối u. Kháng thể đơn dòng được tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.

3. Cơ chế tác động của liệu pháp nhắm trúng đích

Cơ chế hoạt động của hầu hết liệu pháp nhắm trúng đích là can thiệp vào các protein đặc hiệu của tế bào ung thư. Mỗi loại liệu pháp nhắm trúng đích lại có cơ chế hoạt động khác nhau:

  • Giúp hệ miễn dịch tiêu diệt tế bào ung thư: các tế bào ung có khả năng ẩn nấp trước hệ miễn dịch cơ thể. Một số liệu pháp nhắm trúng đích nhất định có thể nhận diện và gắn vào tế bào ung thư, giúp hệ miễn dịch tìm ra và tiêu diệt các tế bào này. Số khác hỗ trợ thúc đẩy hệ miễn dịch ngăn chặn ung thư hiệu quả hơn.
  • Ngăn chặn tế bào ung thư phát triển: Các tế bào khỏe mạnh trong cơ thể thường chỉ phân chia thành tế bào mới khi chúng nhận được tín hiệu mạnh khi cơ thể cần. Song, có những protein trên bề mặt tế bào thay đổi, khiến tế bào phân chia ngay cả khi không nhận tín hiệu từ cơ thể. Một số liệu pháp nhắm trúng đích can thiệp và ngăn chặn những protein này, ngăn chặn sự phân chia tế bào, làm giảm sự tăng sinh không kiểm soát của ung thư.
  • Ức chế tăng sinh mạch khối u: các khối u ung thư thường rất giàu mạch máu. Các liệu pháp nhắm trúng đích ức chế sự hình thành mạch máu, làm giảm và ngăn chặn dòng máu nuôi khối u, từ đó ức chế sự tăng sinh khối u, thu nhỏ kích thước khối u.
  • Vận chuyển chất tiêu diệt tế bào tới các tế bào ung thư: Một số kháng thể đơn dòng được kết hợp với các chất gây độc tế bào là thuốc hóa trị. Một khi kháng thể đơn dòng bám được vào bề mặt tế bào ung thư, các thuốc hóa chất sẽ tiêu diệt tế bào ung thư. Các tế bào không phải mục tiêu sẽ không bị ảnh hưởng.
  • Tiêu diệt tế bào ung thư: Các tế bào thông thường sẽ chết khi bị tổn thương hoặc khi cơ thể không còn cần đến chúng. Tuy nhiên, các tế bào ung thư lại tránh được quy luật này. Do vậy, một vài phương pháp nhắm trúng đích được sử dụng để đưa các tế bào ung thư chết theo chương trình.
  • Tách tế bào ung thư khỏi các hormone cần cho sự phát triển của chúng: Một số ung thư như ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến là những ung thư phát triển phụ thuộc vào hormone. Liệu pháp hormone cũng là một loại liệu pháp nhắm trúng đích nhằm ức chế cơ thể tiết ra hormone đặc hiệu, hoặc ngăn hormone tương tác lên các tế bào trong cơ thể, bao gồm các tế bào ung thư.
  • Thuốc nhắm đích sử dụng kết hợp với hóa tị, xạ trị hoặc có thể sử dụng đơn độc làm tăng hiệu quả điều trị bệnh ung thư. Trong quá trình điều trị người bệnh sẽ được theo dõi sát các dấu hiệu lâm sàng, các tác dụng phụ của thuốc, cũng như thường xuyên xét nghiệm kiểm tra để theo dõi tình trạng bệnh và hiệu quả của liệu pháp.
4. Tác dụng phụ của liệu pháp nhắm đích
Liệu pháp nhắm đích có thể gây ra 1 số tác dụng phụ, tùy thuộc vào từng loại thuốc và phản ứng cơ thể.
  • Tế bào ung thư có khả năng kháng thuốc. Do vậy, liệu pháp nhắm trúng đích có thể hiệu quả nhất khi kết hợp với nhau hoặc với các phương pháp điều trị ung thư khác, như hóa trị hay xạ trị.
  • Một số đích nhắm trong tế bào bị thay đổi cấu trúc và chức năng khiến thuốc khó phát huy tác dụng.
Phúc An (Tổng hợp)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Đang chờ cập nhật
Cơ sở điều trị
Hoạt động
Video
Fanpage